BẤT TRI XUÂN, PHƯỢNG HOÀNG ĐƠN TÙNG & VỊ TRÀ CHO CẢ KIẾP NHÂN SINH
Giữa cuộc tản cư của lằn ranh sáng tối, người ta đã chọn quay đi, tan vào thứ bào ảnh của thành-trụ-hoại-không như điều tất yếu của cuộc thành toàn. Ai đó đan tâm gióng lên hồi chuông báo tử kéo dài hàng thập kỷ. Chỉ một người ở lại, góp nhặt mớ tàn tro còn vương mùi trà cũ lên men, mơ một giấc trường thiên đại ảo mộng hòng nắm níu liều phúc lạc dược cuối cùng.
Đã hơn 400 năm, cuộc ngộ kiến vỡ oà giữa nhân sinh và thứ nham trà nước sẫm xuất xứ từ các điền trang Vũ Di làm chao đảo vị giác giới thưởng trà. Nước đầu màu đỏ hổ phách, ít chát hơn trà xanh, hậu vị ngọt đặc biệt kéo dài qua các tuần trà. Hồng trà ra đời trong cơn hưng cảm của đấng Hoá công, lá trà hấp thu thiên khí, chuyển màu địa linh, mang hương thơm của các loài hoa mộc, tinh quả linh đài. Lập Sơn Tiểu Chủng, Đại Hồng Bào, Thiết La Hán, Bạch Kê Quan, Thuỷ Kim Quy, Phượng Hoàng Đơn Tùng lần lượt xuất sơn mang theo hương khói, hương hoa, hương đá ngậm sương sau những lần bồi hoả. Chính tầng hương độc bản này đã đánh gục khứu giác các nhà cầm quyền Mẫu quốc phương Tây, biến trà đen thành thứ đặc cấp thổ sản chỉ dành riêng cho giới thượng tầng.
Truy nguyên tài liệu đầu tiên ghi nhận về trà, vào những năm 1610, những thương gia Hà Lan trong cuộc chinh phục các vùng đất mới đã khám phá ra “Thức uống huyền bí phương Đông” và đem về phổ biến toàn cõi Âu châu. So với thời giá lúc bấy giờ, trà đen được xếp vào mặt hàng nhập cảng xa xỉ phẩm. Chỉ tầng lớp quý tộc và thương gia giàu có mới đủ khả năng tiếp nhận loại thức uống biểu trưng cho địa vị và quyền lực này.

Khi đắm mình trong những aerosol đầu tiên mang hương trà của Bất Tri Xuân, tôi tự nhủ đây là màn ôn cố tri tân chứ không hề là cuộc tháo chạy của trường niên địa kỷ thay dạ lạc lòng. Sự pha trộn của note Đại hoàng, Trà đen và Xạ hương như một chiều Xuân vừa lướt qua nhưng lòng người lại ngổn ngang với muôn trùng được-mất chờ được bồi hoàn. Từng nỗi bi luỵ kết phiến trong từng tiếng pháo giữa lúc giao thời. Là sự tiếc nuối sau những lần sống bản năng trong vô vàn gió tanh mưa máu.
Vị hồng trà ở lại, áo lên thân thể một lớp trầm hương tựa thể linh sương phù chính khu tà, biến những đao phong kiếm khí thành hơi thở của trà trong một kiếp nhân sinh. Có chứng kiến, có hiện diện và cả sự cảm thông vô điều kiện trong từng cơn chuyển dạ trở mình của thời đoạn trăm năm. Nhiều thế cờ hiểm hóc được tung ra trong những lần “Nhất nhật vô Vương” khuấy đảo biết bao triều lưu sinh hoá. Nhiều cuộc đổi chủ thay ngôi sau những màn chuyển dời tinh đẩu biến dạng đổi hình. Mùi trà đã len vào văn minh nhân chủng để cảm hoá những hình thái tệ lậu truỵ đồi vốn tách rời tính người trong linh thức, khơi dậy tính giác tự tri trong từng căn thể hữu hoại vô thường.
Khoa học hiện đại ước tính trà đen có hơn 600 hợp chất bay hơi tạo hương, hình thành trong quá trình oxy hóa, sấy khô và phản ứng maillard giữa đường và các amino acid. Quá trình oxy hoá catechin đã cấu hợp thành theaflavin và thearubigin, là những cao phân tử tạo hương và màu đỏ đặc trưng cho hồng trà. Người Trung Hoa gọi tên theo sắc nước còn Tây phương lại dựa vào đặc điểm hình thái lá trà.
Bản hợp xướng của theaflavin và thearubigin lần nữa tấn công vào triều đình Ăng-lê khi đức Vua Charles đệ nhị thành gia cùng Công chúa Catarina xứ Bragança của Bồ Đào Nha. Bà vốn là người nghiện trà, đã mang theo vài thùng trà đen Trung Hoa làm của hồi môn sau khi lập Hậu. Trà đen chính thức bước vào cung cấm, dần trở nên phổ biến trong giới vương công nhờ thói quen thưởng trà buổi sáng của vị Quốc Mẫu đương thời.

Những năm 1840, công tước phu nhân Anna Russell xứ Bedford đề xuất ý tưởng tiệc trà chiều. Trà đen pha cùng đường sữa nguyên kem đã quật khởi mùi mật hoa tàng ẩn trong hương trà. Bản hoà tấu hiệp đồng đi kèm finger sandwich, bánh ngọt, clotted cream, mứt dâu và các loại bánh quy ngậy hương bơ sữa. Trà chiều dần trở thành nghi thức xã hội trọng yếu ở Anh, giúp xác quyết địa vị, căn tính lịch thiệp và là phương tiện phụ nữ tầng trên tổ chức giao lưu. Khi giá trà đen trở nên dễ chịu, uống trà vào buổi sáng và buổi chiều được nhanh chóng đón nhận bởi tất cả tầng lớp xã hội thời bấy giờ.
Nhu cầu trà đen khổng lồ khiến Anh Quốc phải tìm cách mở rộng thương mại, dẫn đến các cuộc binh biến trà-thuốc phiện, đỉnh điểm là hai cuộc chiến tranh Nha phiến giữa Thực dân Anh và triều đình Mãn Thanh. Để giảm sự phụ thuộc vào trà đen Trung Hoa, các trang viên trồng trà ở Ấn Độ và Sri Lanka được thành lập, cắt đứt thế độc quyền cung ứng trà đen toàn cầu. Những cái tên như Assam, Darjeeling từ Ấn Độ hay Ceylon từ Sri Lanka bắt đầu cắt xẻ miếng bánh thị phần, trực tiếp cạnh tranh cùng các danh trà nơi cố thổ.
Dẫu bao lần di sơn đảo hải, bao cuộc xuất ly vô chủng vô nguồn, vị trà vẫn đó như một chứng nhân cho cuộc tình phong thổ giữa các giai kỳ, ru giấc Hoàng lương trước khi nhân sinh giật mình trở giấc. Cũng một chiều giữa thu, bầu trời xám đen như từng lớp tro bồi táng, ngoài trời mưa như trút nước, trong không gian tổng phổ mùi bạch trầm hương, tử linh sam, hồng ngọc mai và ngọc lan tây bắt đầu rộ cánh, pha cho mình một tách Phượng hoàng đơn tùng cùng sữa đặc khi trên người còn vương chút tàn dư nước hoa nhà Hắc trảo, tôi tự hỏi mình liệu bất tri xuân?
Willson Bùi
Add new comment