MÙA ĐIÊN ĐÃ QUA
Nhớ lại hồi ấy quanh nhà tôi thật lắm người rồ. Nếu là rồ theo kiểu ông nội tôi hay nói, hay chửi thì khéo cả làng rồ hết. Ông tôi nói bà tôi rồ khi bà lịch kịch đun nước gội đầu bồ kết, sả, chanh, vỏ bưởi… Mùa nào thức ấy, thứ nước gội đầu của bà lúc nào cũng thơm nồng nàn và quyến rũ. Nó trái ngược hẳn với mái tóc của bà, dài nhưng mỏng, cứng quèo, xơ xác. Bà bị hói chính giữa đỉnh đầu, thành ra mỗi lần gội đầu xong (mà bà gội rất lâu mớ tóc tí tẹo ấy) và chải tóc ở đầu hồi, phần hói tóc ấy lại lộ ra, trắng bệch, trông rất đáng sợ.
Ông tôi nói mẹ tôi “rồ” khi hè đến, mẹ tôi đạp xe cọc cạch về quê thăm tôi, mặt nhăn nhó khổ sở, mồ hôi đầm đìa, thu thu giấu giấu xuống dưới bếp nấu cho tôi một bát mì tôm từ mấy miếng mì tôm “cởi truồng” đựng trong một cái túi bạt làm quà rồi nhìn tôi còm nhom, đen đúa xì xụp ăn,vừa nhìn tôi ăn vừa khóc. Ông tôi mắng tôi “rồ à” mỗi lần thấy tôi xin được những cuốn sách, báo cũ của nhà ông Phương về đọc. Ông Phương làm công nhân ở công ty bao bì. Mỗi lần nhận giấy vụn, ông đều tỉ mẩn tìm những cuốn sách, báo… trong mớ hỗn độn ấy mang về cho tôi.
Còn với tôi, cái thuở bé ấy, trong suy nghĩ chỉ tồn tại có ba người rồ ở làng tôi thôi: Lão Lí rồ, thằng Tuyên điên và mẹ Hoa mướp.
Lão Lí rồ lúc nào cũng mặc cái áo đỏ choét đã cóc cáy, cái quần hộp nhiều túi màu vàng không biết đã bao mùa sương gió. Đít quần lão dày cộp, cứng lại bởi bụi bẩn và bùn đất, tựa hồ nếu vỗ tay vào mông lão một cái, lũ bụi đất ấy sẽ rơi lả tả như khi người ta đập cây vào cái nia phơi sắn. Lúc nào lão cũng lè nhè vì say rượu. Trong cái bị của lão chưa khi nào vắng cái can màu vàng. Hễ nhà nào có rượu là lão đánh hơi đến. Nhà ông nội tôi có nghề nấu rượu, bởi thế mỗi lần thấy tiếng lão Lí rồ từ đằng xa là ông nội tôi lại sai tôi đóng cổng. Tôi vội vàng chạy ra, lệt xệt kéo cái cổng sắt han gỉ, khóa lại rồi đứng núp vào bờ rào, cẩn thận nhìn lão ngất ngưởng đến trước cổng, đờ đẫn một lúc, nhổ toẹt một bãi nước bọt rồi bỏ đi. Ấy thế mà có lần tôi chậm chân hoặc ông tôi không để ý, lão cũng chui tọt được vào sân nhà tôi. Sau đó, vừa hằn học vừa cười khanh khách, lão xin ông tôi ít rượu đổ vào can. Nếu không cho, lão sẽ cứ đứng ì ra đấy, hết hát lại chửi đến bằng được thì thôi. Tôi, những khi ấy, vừa len lén nhìn lão vừa sợ đến phát khiếp. Trước đây, lão cũng có vợ con. Nhà lão nằm phía đồi đối diện nhà tôi, chỉ cần đứng ở bậc cửa gỗ là nhìn được sang nhà lão. Lâu lắm, có buổi trưa, tôi đứng đó và thấy lão đang đánh vợ. Chị Tình, con gái lão, ngồi cạnh mẹ tu tu khóc. Lão cầm chai rượu chỉ trỏ vào hai mẹ con. Nồi cơm bị lão đá văng tung tóe trên nền cỏ xanh trước ngôi nhà xiêu vẹo, những hạt cơm trắng nhỏ bé như đang khóc.
Từ hôm ấy, tôi chẳng còn thấy mẹ con chị Tình nữa. Họ đã bỏ đi đâu đó, nghe bà tôi kể là rất xa. Xa cũng tốt, tôi nghĩ thầm, tốt hơn là ở cái làng này, còn phải sống chung với lão Lí rồ.

Chiều tối, ông nội tôi khệ nệ bưng ra một giành sắn đã lột vỏ, bảo tôi ngồi ruôi. Công việc này đã quá quen thuộc với những đứa trẻ ở quê tôi, thậm chí tôi là đứa kém trong số những đứa trẻ khác. Ông tôi hay so sánh tôi với con Xạ đen. Nó bằng tuổi tôi nhưng việc gì cũng cũng biết, từ hái củi, chăn trâu, cắt cỏ, hái chè… Lúc nào gặp nó, tôi cũng thấy nó đang làm một việc gì đấy. Tôi lườm trộm ông tôi một cái, rồi lấy cái ruôi sắn, ruôi xoèn xoẹt. Nghe tiếng ruôi, thằng Tuyên vục dậy, ló đầu qua hàng rào vẫy tay với tôi. Cái mặt nó đen thui, nhem nhuốc, lại nhăn nhở cười. Nó vẫy tay làm cái xích ở tay kêu xủng xoẻng. Nếu là những đứa trẻ khác, gặp Tuyên điên chắc là chạy mất dép nhưng tôi thì không. Tôi đã quen với cái gương mặt đen đúa hay nhăn nhở cười ấy từ khi tôi phải về ở cùng ông bà nội. Gọi là “thằng” là gọi theo cách người làng tôi gọi chứ thật ra bình thường bà tôi bảo Tuyên điên phải bằng tuổi chú tôi, mà chú tôi thì mới lấy vợ và đã ra ở riêng rồi. Tuyên điên bị xích ở nhà cho khỏi đi lang thang. Đến bữa, ông Lượng, bố nó, mang cho nó cơm để trong một cái tô nhựa có chan nước canh và thức ăn thừa. Nó ăn bốc ăn nhúp, liếm láp hết sạch. Thi thoảng, đến ngày Tết nó mới được miếng thịt ngon ngon một tí. Ông Lượng coi nuôi Tuyên điên chẳng khác gì nuôi một con chó trong nhà. Hơn nữa, nó có biết gì đâu. Những gì tốt phải để cho hai đứa em khôn ranh của nó nữa chứ. Bà tôi bảo, nhà ai cũng có một người phải chịu khổ, gánh tội cho những người khác. Chắc Tuyên điên là người gánh tội ấy. Còn nhà tôi, chắc là bố tôi... Tôi thường giấu ông bà tôi, khi miếng đậu, khi củ khoai,… nhét qua hàng rào cho Tuyên điên. Có lẽ vì thế mà mỗi lần thấy tôi là nó lại cười và vẫy tay rối rít. Chiều buông tím, khói bếp đã bắt đầu len qua mái gianh của những căn bếp. Ngồi ở cuối sân ruôi sắn, nghe tiếng chim lợn kêu, tôi sởn cả gai ốc. Tôi chỉ mau chóng muốn làm cho xong. Tay đã bắt đầy tê... Những lúc này, tôi thèm được mẹ ôm. Hơi ấm cái ôm của mẹ từ lâu tôi đã không được hưởng. Dù cố tưởng tượng cũng không thể nào hình dung được. Sao tôi không thể được ở bên mẹ như những đứa trẻ khác. Cái cảm giác mình bị bỏ rơi xâm chiếm lấy tôi. Tôi cố mở to mắt, chỉ cần chớp nhẹ một cái là nước mắt sẽ rơi. Nếu thấy tôi khóc, ông tôi sẽ cho tôi mấy cái dép và mắng tôi “rồ” ngay. Tôi không muốn làm người rồ. Không bao giờ.
...Đêm mùa hè ngột ngạt và oi bức. Vì muốn tiết kiệm tiền điện, không bao giờ ông tôi cho tôi bật quạt khi ngủ. Quạt chỉ được dùng lúc ăn cơm và khi có khách. Tôi phải ngủ chung với ông ở nhà trên, còn bà tôi ngủ dưới nhà bếp. Tôi nằm dán vào tường, nghe tiếng ông tôi ngáy o o. Không ngủ được, tôi rón rén nhỏm dậy, đi chân trần qua buồng bên, mở cửa ngách, khẽ đóng lại rồi chạy ào ra sân. Lần đầu tiên tôi thấy trăng sáng vào giữa đêm thế này. Trăng sáng quá, trăng chảy tràn trên giàn mướp, rơi xuống mặt sân những vệt sáng lốm đốm. Gió thổi mát lộng. Cái cảm giác mát lạnh đột ngột ấy khiến tôi rùng mình khoan khoái. Tôi ngửa mặt lên trời, dang rộng hai tay. Gió thổi quấn quýt quanh mình như bao bọc, như vỗ về tôi. Tôi úp mặt vào hai bàn tay, khóc thổn thức mặc cho gió vẫn ràn rạt bên tai. Tiếng xích leng keng cùng tiếng ú ớ của thằng Tuyên điên làm tôi sực tỉnh. Tôi quay sang nhìn, bắt gặp đôi mắt lấp lánh đang chằm chặp nhìn mình. Chẳng nghĩ ngợi gì, tôi chạy lao về phía nó, nắm lấy bàn tay nó đang thò qua lỗ hổng hàng rào mắt cáo và tu lên khóc. Sao tôi thấy mình giống thằng Tuyên quá! Chỗ của nó và của tôi đều không phải ở đây.
Tôi nằng nặc đòi mẹ tôi cho ở cùng mẹ khi mẹ tôi về thăm. Mẹ tôi bảo: “Theo mẹ khổ lắm con ạ”. Tôi cười mếu máo: “Con xin mẹ, mẹ cho con đi theo, khổ mấy con cũng chịu được. Nếu mẹ còn thương con, mẹ cho con đi cùng mẹ. Nếu không, con sẽ bỏ đi”. Mẹ len lén lau nước mắt, hứa sẽ quay về đón tôi. “Mẹ còn phải lo chuyển trường và xin phép ông bà nữa chứ. Bố thì đi cai nghiện, mẹ thì không có tiền”. Thế rồi, trên cái xe cót két, mẹ lại liêu xiêu đạp đi khi ánh nắng chiều đã xiên khoai từng tia vàng vọt lên cái cổng dốc hun hút. Tôi đứng mãi nơi cánh cổng ấy cho đến khi bóng tối đang bò chầm chậm, leo từ con đường đất đỏ trước mặt và bà tôi, cam chịu và nhẫn nhục, cõng bó củi to sau lưng, sờ sệt đi lên, lặng lẽ nhìn vào mắt tôi: “Sao chưa nhóm bếp lên”?.

Sớm mai, mẹ sẽ về đón tôi. Ông tôi đập tay vào cái cột nâu bóng trong bếp ầm ầm: “Rõ lũ rồ, đem nó đi để chết cả nút à. Tao xem nó nuôi con kiểu gì, cái con rồ này”. Tôi im lặng nhìn bà, bà vẫn ngồi bên bậu cửa, lấy chân vò rau sắn trên cái nong trước mặt. Những lá rau tả tơi, dập nát sau những cái xoắn chân của bà.
Đêm. Tôi lại rón rén mở cửa, đi về hàng rào. Nghe tiếng tôi thì thào gọi, Tuyên điên thò tay qua. Tôi nhét vào tay nó mấy cái kẹo mà tôi để dành được. Tôi nắm tay nó, khẽ khàng: “Mai tôi đi rồi, Tuyên ở lại nhé. Khi nào tôi sẽ về thăm”. Tuyên điên khua cái tay khiến xích lại kêu leng keng. Tôi giữ chặt tay nó hơn: “Suỵt, ông Lượng biết ra đánh bây giờ. Nhớ ngoan nhé”. Nói xong câu ấy, tôi chạy vụt vào nhà.
Mẹ tôi đón tôi từ sớm. Tôi chào bà. Bà đang nấu cám lợn, chỉ “ừ” một tiếng. Ông tôi thì vẫn đay nghiến: "Thôi, mày đi nhé! Rồi thì mày đừng có rồ như mẹ mày”. Tôi trèo lên xe, mẹ đạp xe kẽo kẹt. Qua cổng nhà ông Lượng, tôi thấy Tuyên điên đang nằm còng queo, chắc vẫn ngủ say. Qua bụi tre, một người đàn bà chạy ra nắm lấy đầu xe mẹ tôi, huơ trước mặt tôi một cây mía khô quắt. Mẹ tôi sợ hãi, lùi lại. Đã quen, tôi đưa tay nhận lấy khúc mía. Người đàn bà cười hềnh hệch, nhảy tưng tưng, cái áo rách màu cháo lòng tốc lên, hở ra cái bụng lùm lùm...
Ngày bố tôi mất, tôi mới trở về làng. Tuyên điên đã chết được mấy năm nay. Trời đày nó lúc sống, nhưng nghe bà tôi kể lúc nó chết, chẳng đau đớn gì, chỉ như đứa trẻ ngủ say. Trong cái bát ăn của nó, chẳng biết nó kiếm đâu được sợi lạt, xâu phân nó thành từng cục như chuỗi hạt, bỏ vào trong ấy. Lão Lí rồ cũng chết, bà kể là một lần say rượu lão bị ngã xuống cái mương ngay cạnh nhà. Chuyện làng, quanh quẩn chỉ là chuyện của những người rồ điên ấy. Bà tôi vừa nói, vừa búi lại mớ tóc lưa thưa. Mớ tóc ấy, kéo chải khéo thế nào cũng không che được phần tóc hói trên đầu bà.
Đưa tang, tôi ôm di ảnh bố, xõa tóc, đi chân trần, xiêu vẹo trong cái nắng hè trên con đường dẫn ra bãi tha ma đầy sỏi và đá răm. Ngang qua đồi sắn, có đứa con gái trạc tuổi tôi ngày xưa ấy, mắt sáng, mặt tròn, tay cầm khúc mía đứng trước cửa ngôi nhà tranh đắp đất thủng lỗ chỗ, nhìn đăm đắm vào mặt tôi. Tôi khẽ rùng mình, cảm giác đôi mắt kia sao quen thế. Tiếng trống “cắc tùng” và tiếng kèn réo rắt lại vang lên, đầu óc tôi ong ong khi nghe tiếng ông nội tôi đằng sau lưng: “ Ớ con ơi, sao con lại bỏ bố mà đi”...
Hằng Yên
👉Link bài viết trên Group Tay Đan: MÙA ĐIÊN ĐÃ QUA
Add new comment