NGÀY MẸ VỀ LÀM DÂU
Nghe nói ngày mẹ về làm dâu, trời sai cái nắng gắt gỏng giữa tháng Sáu xuống đầy đọa.
Nghe nói ngày mẹ về làm dâu, tấm áo cưới trên người cũng chỉ là đồ cũ bà nội từng mặc qua, giờ đây mặt vải đã vàng ố, vài chỗ còn thủng thành lỗ.
Nghe nói ngày mẹ về làm dâu, bên nội kẻ lườm người nguýt bởi vì mẹ đã ‘lỡ có bầu trước khi cưới’!
Mẹ tôi, bà ấy đẹp lắm! Nhưng rồi, cái đời ghen ghét, khiến cho nửa kiếp về sau người phụ nữ ấy phải sống trong cam chịu, tủi hờn…
Trước đây, thời mẹ còn là cô thiếu nữ mới đôi mươi, trai xóm trên làng dưới mỗi lần thấy mẹ thì thẹn thùng luống cuống, khẽ gọi một tiếng: “ Đằng ấy ơi!”. Để đáp lại mẹ khẽ cúi đầu, nở nụ cười duyên tỏ ý chào lịch sự, vì lời cha dặn nên chẳng dám đứng lại trò chuyện điều chi. Lời đồn về xóm bên dưới có cô gái tên Hoài, người vừa xinh tính tình lại tốt cứ thế vang ra xa. Sớm cửa nhà ông bà ngoại đã có mấy chục khay trầu bưng tới, tỏ ý muốn mẹ về làm dâu. Nhiều lần bà ngoại thủ thỉ hỏi ý, nhưng mẹ nói rằng chẳng ưng ai.
Hỡi ơi! cái duyên cái số đẩy đưa, một lần lên tỉnh mẹ lại gặp phải kẻ hại cả đời mình tan nát.
“Bỗng đâu rút mối tơ mành
Cho duyên quấn quýt, cho tình đa mang.”
Mật ngọt chết ruồi. Vì một lần chót dại, đem thân hồng trao cho kẻ trộm hoa. Ngày hay tin có bầu, mẹ khóc, khóc vì sợ khóc vì lo. Mẹ báo tin, ông ta tỉnh bơ đáp: “Hay là mình bỏ nó đi em.”. Nhưng mẹ tôi không chịu, ông ta liền lừa rằng sẽ tới tận nhà thưa gửi. Nhưng để thoát khỏi việc chịu trách nhiệm ông ta bỏ mặc mẹ rồi trốn đi mất. Thời gian đó mẹ sống trong lo âu, chờ đợi. Sợ bị lộ mà ốm nghén cũng không dám thể hiện ra. Cơ thể không đủ chất, lại chịu áp lực nhiều nên mẹ đã bị ngất. Lúc hay tin mẹ đã có bầu tới tháng thứ hai, cả nhà ngoại tôi như chết sững. Ông ngoại tức tới đấm ngực thở không ra hơi, bà ngoại thì quỳ sụp xuống khóc nức nở. Để tránh làng xóm dị nghị, hai ông bà đem mẹ tôi về nhốt trong nhà. Nhiều lần nghe ông đập phá đồ đạc, quát lên giận dữ hỏi về cha của đứa bé nhưng mẹ chỉ ngồi co ro một góc, khóc tức tưởi. Có lẽ trời không thương mẹ, chẳng biết ai đem chuyện đồn ra. Để thời gian sau đó mỗi lần bà tôi đi chợ lại nhìn thấy những ánh mắt thương hại, dò xét, một vài người bĩu môi, khinh khỉnh nói nhỏ nói to sau lưng:
“Tưởng thế nào, ỡm ờ cho lắm rồi cũng chỉ là loại gái không chồng mà chửa.”
“Đúng là nhà vô phúc đẻ được đứa con gái cũng là loại không ra gì.”
“...”
Bà ngoại thương con một mà xấu hổ mười, từ khi làng xóm đồn đoán bà chẳng dám ra đường gặp ai.
Thế nhưng có lẽ là trời chưa để mẹ tôi thoát.

Cái ngày mà nhà trai tới đặt trầu, bà cô của cha tôi mang một mâm nhỏ lèo tèo vài ba lá trầu quả cau sơ sài. Đứng từ ngoài sân đã tỏ ý ghét bỏ, mặt mày nhăn nhó chê bai này nọ. Tới lúc hai bên thưa gửi, bà ta cất cái giọng chua như hũ dấm để lâu, xéo xắt nói:
“Cũng là cái nợ của thằng cháu trai nhà tôi gây ra, giờ đem đồ qua xin rước cô con gái nhà hai ông bà về. Tuy điều kiện bên này không tốt nhưng chỉ cần đừng làm mất mặt đằng trai hôm cưới, thì hôn sự này coi như qua. Con gái nhà mấy người cũng bầu bì đã lớn, về đám cưới thì chỉ lần một buổi ăn nhỏ cho hai họ biết mặt là được, còn sính lễ thì bên nhà tôi cũng nói trước là đừng vòi sang. Không biết ý hai ông bà ra sao?”
Ông bà ngoại tôi ức lắm, nhưng con dại cái mang nên ngậm ngùi nuốt cục tức vào trong.
Hôm cưới, vì cái tiếng tiết kiệm cho hai đứa mà mẹ tôi phải mặc lại đồ cưới của bà nội, tấm áo dài trắng được cất trong rương sắt hoen rỉ từ cái thời nào nên vải đã bị ố vàng, nhăn nhúm tới thảm thương. Nhìn lại cha tôi đứng bên cạnh mặc com-lê phẳng phiu là lượt, họ nội tớn môi lên chỉ chỏ đánh giá, ai nấy lườm lên nguýt xuống cái vùng bụng đang hơi nhô ra của mẹ. Sau hôm cưới, bà nội chẳng thèm quan tâm việc mẹ bầu bí ra sao, mới ngày đầu tiên về làm dâu đã đay nghiến việc mẹ không biết phép tắc, dâu con trong nhà là phải dậy sớm đun nước dọn dẹp, ác ngôn tục ngữ nhéo mẹ rồi còn hậm hực bảo rằng:
“Cha mẹ cô không biết dạy cô à, tới mấy việc nhỏ đó còn phải để tôi dặn dò dạy bảo hả?”
Phải sống trong cảnh mẹ chồng nàng dâu, sương gió đời người phủ bạc đi nét thanh xuân của mẹ. Sống cùng mẹ chồng luôn hạch sách và một người chồng nhu nhược thích ăn chơi đàn đúm, cuộc sống như thêm phần gánh nặng, trĩu đôi vai của người đàn bà số khổ ấy. Đến lúc hạ sinh là vào tháng Mười Một âm, chẳng ai hay biết thời khắc sinh tôi ra mẹ như chết đi sống lại. Ngoài trời rét căm căm, gió mùa Đông Bắc thốc thẳng vào phòng. Bà đỡ nói, do tôi thấy bên trong bụng mẹ ấm hơn nên mãi không chịu chui ra. Tới tận khi mẹ gần như kiệt sức, tiếng oe oe chào đời của tôi mới cất lên. Mẹ dồn hết sức lực để sinh tôi, lúc này cả người như cánh diều mất gió mà buông thõng.
Sau khi hay tin mẹ sinh ra tôi là một đứa con gái, bà nội lại càng ghét bỏ mẹ hơn. Thời gian ở cữ của mẹ ngắn tới mức chỉ vừa kịp hồi lại sức thì mọi công việc nhà lại đổ dồn lên đầu. Bữa cơm sau sinh là vài miếng rau cải với cơm trắng, thi thoảng thêm một, hai cục xương sạch thịt mà bà nội ăn thừa. Người phụ nữ như trăng rằm năm nào, giờ chỉ trơ trọi một cơ thể gầy gò cùng làn da thô ráp.
Có người từng hỏi mẹ: “Sao cô không bỏ quách cái nhà ấy đi?”
Mẹ ngậm ngùi lén quay đầu rơi nước mắt, giọng nghẹn ngào trả lời: “Bỏ đi rồi biết nơi đâu mà về hả chị. Không lẽ em về nhà ngoại cho người ta bôi tro trát trấu vào mặt cha mẹ em ư.”
Tôi thở dài, chạnh buồn mà thương mẹ lỡ mang phải cái số kiếp phận gái đa mang.

Cha tôi về sau mỗi ngày đều lên tỉnh bán buôn kiếm vài đồng cờ bạc gái gú, chẳng biết thương vợ con ở nhà đói khát chắt bóp từng đồng. Mỗi lần trở về trong cơn say xỉn, tôi nhiều lần nghe rõ tiếng ông ta mắng chửi, thậm chí có hôm đi chơi về liền thấy mẹ đang bị nắm tóc, đánh cho máu mũi máu mồm tràn ra, dính đỏ cả ngực áo.
Mẹ đi làm thuê làm mướn được vài đồng thì đều phải đưa cho bà nội tôi một nửa, số còn lại dùng cho việc ăn uống mua bán đồ đạc trong nhà. Quần áo mấy năm ấy đều là đồ cũ hoặc là đồ xin được từ hàng xóm xung quanh, ai cũng nhìn mẹ với ánh mắt thương hại, trước mặt thì cảm thông nhưng sau lưng lại buông lời cười cợt. Mẹ biết chứ, nhưng đành chịu. Bởi vì đây là cái sai của mình, trách chi những lời đặt điều bôi nhọ kia. Thời gian như một liều thuốc độc, ngày ngày ngấm sâu, bào mòn đi sức lực của mẹ.
Mẹ bệnh! Tiền không có để chạy chữa, lúc đó tôi mới được năm tuổi. Tôi chẳng nhớ rõ mặt mẹ, nhưng nụ cười dịu dàng trên khuôn mặt hốc hác gầy gò ấy thì vẫn in sâu trong tâm trí của tôi tới tận khi trưởng thành. Cha tôi, ông ta ngoại tình. Ngay khi mẹ tôi vẫn phải hì hục ra đồng trong những ngày mưa gió, cái thời gian đổ bệnh mẹ không dám nghỉ ngơi, thì ông ta lại đang say khướt, ngủ cạnh cái thân xác của con đàn bà nào đó trên tỉnh. Bà nội đi buôn điều bán chuyện trở về, thấy bếp còn chưa lên khói thì xộc thẳng vào buồng trong, túm lấy cổ áo mẹ tôi mà ném vật xuống đất. Bà ấy yếu quá, bị ném chỉ có thể nằm vật ra đấy. Lặng người mà nghe lời mắng nhiếc thậm tệ:
“Cái loại ăn hại nhà mày, tao đi công việc từ sáng tới giờ mệt nhọc mà mày còn nằm ngủ. Mày dám nghỉ ngơi khi mà cơm chưa nấu à. Nhà tao vô phúc mới rước phải cái loại gái đ.i.ế.m như mày.” Nói rồi bà ta đạp mẹ, mặc tôi đang khóc ré lên vì sợ ở góc phòng, ánh mắt bà ta chỉ trừng lên một cái rồi rời đi.
Thế rồi, mẹ bệnh nặng hơn. Đến lúc được đưa tới bệnh viện tỉnh, thời gian sống chỉ còn tính bằng ngày. Ông bà ngoại thương con, nửa bước chân cũng không rời khỏi phòng bệnh. Bà ngoại khóc cạn nước mắt, ông ân hận vì đã gả mẹ cho cái lũ thân người dạ quỷ kia. Mấy ngày cuối đời của mẹ chỉ có tôi và ông bà ngoại. Trước khi nhắm mắt mẹ vẫn nở nụ cười dịu dàng ấy nhìn tôi, mắt mẹ trào ra từng hàng lệ, có vẻ điều bà ấy không yên tâm nhất khi ra đi lại chính là cô con gái bé nhỏ này. Ngày bà rời xa tôi chính là một ngày cuối tháng Chạp, cái ngày mà tất cả mọi người đang sắm sửa đón một cái Tết đoàn viên, còn tôi thì đã mất đi người quan trọng nhất với mình. Đám tang của mẹ không lớn, chỉ đơn giản một chút rồi chôn cất. Rắc rối về sau đó chính là nhà nội sợ hàng xóm đàm tiếu nên bắt cha tôi qua nhà ngoại lấy chân hương của mẹ về thờ. Thật ra là nói thờ, nhưng đến một nén hương mới cũng chỉ có hàng xóm dâng lên cho người đã khuất chứ nào phải nhà nội thương tiếc chi mẹ. Còn tôi thì sao nhỉ! Phải chăng việc nuôi dưỡng cũng chỉ là trách nhiệm, để sau này có kẻ hầu hạ thay. Mẹ tôi mất chưa lâu, cha tôi đã mang một người đàn bà khác về. Người phụ nữ ấy so với mẹ tôi thì kém xa vài phần, nhưng nhìn mớ đồ xa xỉ đắt đỏ trên người đã đủ hiểu việc mẹ ch.ết chẳng ảnh hưởng gì tới cuộc sống của đám người này.
Tôi chỉ tức rằng người đàn bà kia và mẹ đều mang bầu trước khi cưới, nhưng cớ làm sao mà bà ta có kẻ khen người nịnh, đám cưới xa hoa. Rước về liền được bà nội và cha hết mực cưng chiều. Còn tôi thì coi như con ở, không hợp ý liền ăn tát ăn đạp. Thế rồi cảnh mẹ ghẻ con chồng lại đày đọa lên cái kiếp số tôi. Mẹ kế sinh ra con trai, tiệc đầy tháng hơn hai hai mâm cỗ, mời làng trên xóm dưới tới chung vui. Tôi lén núp sau cái chuồng gà góc trái, nhìn cha tôi ẵm đứa con mới sinh của ông ta ra ngoài vênh váo, khoác eo mẹ kế đi từng bàn cho họ hàng xem, nở mày nở mặt khi nghe hết người này tới người nọ khen.

Tôi buồn lắm! Lén chạy ra ngoài khóc. Phải chi tôi cũng là con trai thì chắc cha tôi và bà nội sẽ thương mẹ tôi nhiều hơn một chút.
Thế rồi tôi ngày một lớn, khuôn mặt lại chín mười phần y đúc khuôn mặt mẹ. Nhiều lần thấy có trai làng trên xóm dưới tới dòm từ hàng rào vào ngắm tôi đang giặt đồ, rửa chén là mẹ kế liền xua đuổi với những từ ngữ chối tai, rồi lôi tôi vào nhà cấu véo chửi rủa:
“Cái loại đ.ỉ thỏa nhà mày, mày lại giống con mẹ mày xí xớn rồi chửa ễnh cái bụng lên. Dám vác cái thứ của nợ của nỡm ấy về thì tao xé xác.”
Tôi tức lắm, xô mạnh bà ta ra, cãi lại:
“Mẹ tôi bà ấy mất rồi, bà đừng có mà nhắc tới. Cái loại nhà bà có khác gì đâu, mắng người thì phải biết xem lại mình đi.” Nói rồi tôi chạy ra khỏi nhà, mặc kệ bà ta tức giận đứng dậm chân.
Cũng chẳng biết bà ta nói ra nói vào gì với cha tôi, tối đó tôi bị ông ta đánh cho một trận suýt ch.ết. Từng vết lằn do gậy gỗ vụt xuống, vài vệt quật do ống nứa gãy quệt qua mà rỉ máu, mặt mũi bầm tím vì từng cái tát cái đạp, tới lúc tôi gục xuống ngất lịm đi ông ta mới thôi không đánh nữa. Chuyện tôi bị bạo hành hàng xóm xung quanh cũng vài lần qua ngăn cản, nhưng bị mấy lời chửi rủa ác ý từ mẹ kế mà tức giận bỏ về. Nhớ lần ấy, cậu con trai cưng của cha tôi bị ngã gãy tay do leo cây, tôi vô tình hứng mũi chịu sào, trở thành lý do cho sự đùa nghịch ngu dốt của nó. Bà nội mắng tôi rồi đuổi tôi ra khỏi nhà, lần đó là lúc tôi thấy mình mạnh mẽ hơn mẹ, quay đầu bỏ đi không thèm van xin một từ.
Tôi trở về nhà ngoại, hai ông bà thấy tôi cả người đầy vết thương thì đau xót. Vì để tôi bằng bạn bằng bè nên gửi tôi lên nhà chú họ sống, cũng may trời thương nên gia đình chú coi tôi như con cháu ruột thịt trong nhà. Tôi học lấy cái nghề may vá, vào xí nghiệp Thanh Hoàng ở Hà Nội làm mấy năm. Tích góp cũng đủ sống, lại học thêm cái nghề làm tóc, về sau tự mở hẳn một quán riêng. Việc kinh doanh cũng ngày càng phát triển tốt, cuộc sống tự lập không dựa dẫm vào ai. Sau mười mấy năm rời đi, tôi về thăm lại nhà nội coi như trả chữ nghĩa. Xách đùm hoa quả trên tay, tới trước cửa cái nơi mà chẳng khác địa ngục trần gian trong kí ức của tôi ngày nào, giờ tàn tạ không tưởng tượng nổi. Hay tin từ hàng xóm thì cậu con trai kia của cha tôi cũng cờ bạc gái gú, bị lừa cho bán nhà bán đất. Giờ thì đang sống ở cái khu gần mép sông, nghe cũng khó khăn dữ lắm. Theo lời chỉ mà tìm tới, từ xa bóng cha tôi đang cuốc đất trên cái mảnh ruộng trồng mấy cây ngô, trông gầy gò hốc hác hơn cái thời còn bóng bẩy đào hoa, làn da trắng láng trước đây giờ đã bị nắng làm cho đen nhẻm. Đứng từ xa tôi khẽ gọi:
“Có phải là chú Đông không?”
Nghe tiếng gọi cha buông cuốc xuống, ngẩng đầu lên nhìn về phía tôi. Cả người chết sững, ông ta dường như không tin vào hai mắt mình. Tôi mang khuôn mặt của mẹ thời còn trẻ, chỉ khác là trên người bao phủ sự trưởng thành nghiêm túc chứ không hồn nhiên, ngây thơ như mẹ tôi. Cha khẽ đáp:
“Lan, có phải con không Lan?”
Tôi biết ông ta sẽ nhận ra nên chỉ khẽ gật đầu đáp lại. Theo chân ông ta vào nhà, căn nhà xập xệ được lợp bằng lá cọ bện, vẻ hào nhoáng ngày xưa dần bị che lấp bởi sự mục nát. Cha ái ngại mời tôi ngồi xuống cái tấm phản nhỏ, rót nước cho tôi bằng một ly sứ đã sứt miệng. Nhìn cái vẻ kham khổ này, mọi oán hận trong tôi dường như bị quên lãng. Tôi không ở lâu, đặt đùm quà lên bàn rồi xin phép về. Cha như muốn nói gì đó, nhưng ái ngại nên im lặng nhìn theo bóng tôi rời đi. Hôm nay tới đây coi như trả hết nghĩa xưa tình cũ, số tiền tôi để lại cũng có thể coi là cắt đứt mọi vướng bận cho mẹ tôi. Tôi không hỏi trực tiếp, nhưng từ miệng của mấy người ở gần đó thì vợ con của ông ta không chịu được khổ nên mặc ông ta van xin, họ vẫn cuốn gói về ngoại hết, còn bà nội thì sau đó đổ bệnh rồi ch.ết vì cô con dâu mới không muốn xì ra một đồng thuốc thang nào. Tất cả, cũng coi như cái quả báo mà họ đáng phải gánh sau những gì bản thân đã gây ra!
Add new comment