TỰ TÌNH VỚI DÒNG SÔNG

Sáng tác: Lương Phúc Sinh - Những Ngón Tay Đan

 

Đó là một miền quê nghèo với hệ thống sông rạch chằng chịch như mắc võng. Ở nơi mà với 1 mái chèo và 1 chiếc ghe nhỏ người ta có thể đi đến bất cứ đâu.

Trước nhà nó là sông, một con sông là nhánh rẽ của dòng sông Tiền bao la. Bên kia sông là cồn, một cách gọi khác của các đảo trên sông. Nhà nó nhìn ra đoạn cuối của bến cồn nên người dân ở đây quen gọi là đuôi cồn dù chẳng ai phân biệt đâu là đầu và đâu là đuôi.

Đuôi cồn là một bãi bồi dài khooảng 3km với 1 rừng bần, những cây bần vài chục năm tuổi có thân to 2 người ôm, thân sần sùi và đầy những vết đạn còn sót lại từ thời chiến tranh. Rừng bần có hàng trăm cây bần như thế. Bài đất bồi dưới rừng bần là đất cát pha bùn, loại đất rất thích hợp để các loài tôm cá sinh sống.

Hơn 1 tuổi nó đã gắn bó với sông. Những năm tháng cái đói cứ bám theo dai dẳng, ba nó mượn 1 chiếc ghe rồi xin được 1 tay lưới đã cũ, đánh bắt cá trên sông ăn qua bữa. Ba chặt tre và là dừa nước đan 1 cái rèm xếp có 2 mái như mái nhà để trên ghe. Những ngày nắng mưa, những khi dừng lại nghỉ ngơi va dựng rèm lên để cả nhà trú mưa trú nắng. Khi ba giăng lưới hay cuốn lưới, nó nằm gọn lỏn trong cái nón lá của mẹ. Nó đã quen nhìn ba kéo lưới qua khe hở của cái nón lá úp lại trên ghe. Đó là ký ức đầu tiên của nó về dòng sông.

5-6 tuổi nó đã biết bơi. Nó cũng không nhớ mình đã học bơi hay tập bơi thế nào.

Ngày đó, những ngày nước cạn. Ba bơi thuyền đánh lưới, ba thả nó lên bãi cồn. Nó lang thang dọc bãi dài nhặt nhạnh bất cứ thứ gì sử dụng được. Nó thích nhất là các đồ nhựa, những chiếc dép tổ ong cũ - những thứ có thể bán được. Đánh lưới xong ba rước nó với 1 túi lỉnh kỉnh các vật nhặt nhạnh được. Nó chọn ra những vật nó thích để làm đồ chơi, còn lại nó chờ bán cho những người mua ve chai lông vịt đi qua lại nhà hàng ngày.

Nó biết kiếm tiền từ đó.

Ngày đó, đường xá còn rất khó khăn nên phương tiện đi lại chủ yếu là tàu, ghe. Từ bãi bồi nó đứng nhìn qua phía bên kia con sông mà người quê nó gọi là sông Cái là tỉnh Vĩnh Long. Con sông rộng hơn 3km này có lúc hiền hòa nhưng có lúc rất hung tợn. Đây là 1 trong rất it khúc sông ở miền Tây có sóng “lưỡi búa”, một cách gọi loại sóng không đánh theo từng lượn sóng mà đánh dựng đứng từng đáy sông lên theo hình cái lưỡi búa. Những ghe tàu chở nặng mà gặp sóng này thì rất sợ vì khả năng chìm ghe là rất cao. Tàu ghe đi lại nhiều nên con sông này cũng thường xuyên có người bị chết đuối do chìm tàu, ghe.

Thỉnh thoảng trong lúc đi lượm đồ cũ, nó lại phát hiện xác người chết trôi. Mùi người chết trôi trên sông rất lạ, khoảng cách trăm mét đã có thể nhận ra. Nhìn cách nằm từ xa của xác chết có thể nhận ra là nam hay nữ vì người chết trôi nếu là nam thì luôn nằm sấp và người nữ thì luôn nằm ngửa – bài học ba nó đã dạy từ những ngày bé.

Phát hiện xác người, ba nó lại bơi ghe về gọi hàng xóm đến mang xác về 1 ngôi đình nhỏ ngay ngã 3 sông, ngôi đình của 1 người dựng lên để chôn cất những người chết trôi. Để xác chết, chờ xem có người đi tìm để nhận người thân hay không. Ngày đó, cứ thấy ghe đi trên sông mà trước ghe có cây cờ cột vải trắng hoặc cây cờ cột cái bịch ny-lon thì biết là họ đi tìm người thân chết trên sông.

Nếu không có người nhận, xác chết sẽ được ghi lại đặc điểm nhận dạng rồi mang chôn bên nghĩa trang của đình.

Nó hay tìm những cái gối tấp trên những đám lục bình, vì người đi sông hay để tiền trong gối. Thỉnh thoảng nó nhặt được tiền mang về.

Có lẽ, tiếp xúc với xác chết từ những ngày còn bé nên nó không có khái niệm sợ ma. Người chết và người sống với nó như hai thế giới song song.

Ngày đó, các chú bác đi bộ đội ở chiến trường Campuchia khi về thường hay mang những quả mìn hay lựu đạn ra sông ném cá. Bên dưới bãi bồi là 1 hệ thống các loại gốc cây nên rất nhiều cá. Chủ yếu là các loài cá như cá hô, cá ba sa, cá tra sông…

Mỗi lần nghe tiếng nổ, ba nó lại bơi ghe đưa nó ra sông. Nó lang thang dọc bãi sông vừa nhặt đồ chơi vừa chờ những con cá to bị đánh mìn trôi vào bờ. Thấy cá, nó lụi cụi đào 1 lỗ đất, kéo con cá chôn vào đó, lấy lục bình đắp lên giấu đi rồi lại tiếp tục đi nhặt đồ chơi như chưa có gì xảy ra. Đợi người ta về nó lại moi cá lên mang về.

Hồi đó nó 6,7 tuổi.

Là bãi bồi cát pha bùn nên đuôi cồn rất nhiều tôm cá. Những ngày nước cạn, nó thích qua đó bắt cá. Bãi bùn nên các loại cá sống sao, cá kèo và đặc biệt là con lịch rất nhiều. Nó học theo người lớn thụt hang bắt những con cá bống sao béo ú. Riêng con lịch, một loài giống lươn nhưng nhỏ hơn - rất khó bắt vì nó trơn. Ban đầu, nó bắt mãi mà chẳng dính. Hì hục cả ngày chỉ bắt đươc vài con nhưng dần dần nó trở thành 1 cao thủ bắt hang lịch trên sông.

b
Nguồn ảnh: Sưu tầm

Các gốc cây bần lâu năm thường có những lỗ sâu, những đọng nước dưới góc gọi là “bọng bần”. Nó thích đi tát bọng bần bắt cá bóng dừa và tép. Vào ngày Rằm và ngày 30 âm lịch, cá bống dừa thường ở cặp với nhau. Những ngày này, ba đưa nó và mẹ qua bãi bồi đi tát bắt cá. Cá tôm ngày đó còn nhiều, đí chút đã có vài kg cá mang về.

Lớn lên 1 chút, nó không cần ba đưa nữa. Nó chặt 2 cây chuối, đóng 2 cây tre xuyên qua thành cái bè, để cái nồi và cái rổ xúc lên đó rồi bơi qua sông bắt cá xong lại bơi về.

Một trong những đặc sản quê nó là con ốc gạo. Một loại ốc sông, con nhỏ như ốc đắng nhưng vỏ có màu trắng sữa, thịt ăn ngọt và thơm.

Vào mùa ốc, khoảng tháng 4, tháng 5 xóm nó ai cũng trang bị 1 cái cào ốc được làm bằng 1 thanh sắt uốn cong và đang 1 tấm lưới có tay cầm. Những đêm nước sát kiệt, cả xóm lên ghe đi bắt ốc. Cả xóm chỉ có vài chiếc ghe nên mọi người hay í ới rủ nhau đi chung. Hơn nữa, lặn ốc gạo phải đi ra xa nên đi chung sẽ trông chừng nhau an toàn hơn.

Mỗi người mang theo đồ cào, 1 cái nồi to đựng ốc và 1 cái sào tre cùng 1 sợi dây dài. Cột cái nồi vào cây sào, chân dò từng bước dưới bùn, đụng chỗ nào có nhiều ốc thì cắm cây sào xuống rồi lặng xuống dùng cái cào đế cào bùn, đãi ốc. Khi lặn thường cốt dây vào eo và cây sào vì nước chảy có thể làm người lặn trôi ra xa và chết đuối. Buổi sáng, cứ thấy mắt ai đỏ lừ đừ là lại hỏi nhau: hôm qua cào có không?

Một cách những người dân trong nghề nhận ra nhau.

Khi nó học lớp 4, nhà nó mua được 1 chiếc ghe cũ của người hàng xóm. Ba nó trang bị 2 tay lưới và nhà nó bắt đâu những ngày tháng trên sông.

Nó đi học 1 buổi, 1 buổi về đi đánh lưới với ba.

Nó được cùng ba lang thang khắp các bến sông. Nó không biết vì sao ba nó lại đủ sức khỏe để bơi và chèo con ghe đi khắp các nơi như thế. Sau này nó mới hiểu, cái nghèo và cái đói của gia đình chính là động lực lớn nhất để người đàn ông vượt qua những giới hạn của bản thân.

Đêm đến, đuôi cồn là nơi chọn hướng để về. Ngày đó, không có đèn như cây giờ nhưng đuôi cồn ngay nhà nó có 1 đàn đom đóm rất lớn. Hàng triệu con đom đóm trên những cây bần thắp sáng cả 1 khúc sông. Nhìn thứ ánh sáng nhấp nháy sáng rực nó biết nơi đó là nhà. Những ngày đánh lưới xong, chờ nước cạn để cuốn lưới, ba nó bơi thuyền ra cách bờ 1 chút, cắm sào ngủ cho khỏi muỗi. Những lúc đó nó có dịp quan sát những con đom đóm. Hóa ra, chúng có những qui định rất chặt chẽ. Đầu hôm, những con đom đóm từ các nơi gom về, mỗi con chớp sáng 1 kiểu nhưng khoảng 8h trở đi thì tất cả các con đom đóm sẽ chớp cùng 1 nhịp. Những con đến sau nếu không hòa cùng nhịp đó sẽ bị đuổi ra khỏi đàn.

Năm cấp 2, ba nó bệnh nên không đi làm thuê hay đánh lưới được. Nó đi bắt hến với mẹ để đổi gạo.

Đi từ chiều khi con nước còn đang ròng, đến bãi cồn bắt đầu bắt từ trên cao xuống theo chiều rút của con nước. Cứ thế, nó và mẹ ngâm mình dưới nước từ chiều đến 10, 11 giờ đêm. Trước lúc đi, mẹ nó nấu cơm và cho vào vài củ khoai mì gọi là ăn độn cùng với cá kho. Sau mấy tiếng đồng hồ ngâm mình dưới nước, sợ nhất là cảm giác vừa lên ghe. Lúc này mới cảm nhận hết cái lạnh của cả gió và sương đêm. Ngồi co ro trong ghe, hai hàm răng đánh bò cạp lập cậm và nhai từng miếng cơm, lúc này là lúc cảm nhận rõ nhất vị ngọt của hạt cơm.

Đêm, lạnh lẽo, heo mẹ con bì bõm bắt từng con hến. Thỉnh thoảng bắt ở những bãi sông có người ở, nhìn lên bở thấy cả nhà người ta quây quần bên bếp lửa hay cùng xem ti vi.

Bất chợt, nước mắt nó chảy dài.

Những tháng hè là thời gian nó sống trên sông. Khi ba nó mua được cái mái Kohler 4 của 1 người quen, nó được đi xa hơn cùng ba để đánh lưới. Có khi, cả tuần nó mới được lên bờ 1 lần. Bếp trên ghe của nó và ba là 1 cái lò xô ( một loại bếp dầu ) và 1 ít gia vị cùng với ít gạo. Đi đến đâu, bán cá mua gạo đến đó. Rau trên sông, nước dưới sông là đủ cho cuộc sống lênh đênh.

Những ngày tháng Chạp, buổi sáng sớm trời lạnh căm. Nó sợ nhất cảm giác lội sông, lặn gở lưới khi lưới vướng cây vào giờ này. Ngậm 1 chút nước mắm vào miệng, xoa 1 chút vào tay và lặn để tránh chuột rút. Leo lên ghe khi môi tím ngắt và run lập cập. Tuy nhiên, khi lưới vướng cây lại thường có tôm và cá vì chúng trốn trong những gốc cây này.

Nó không hút thuốc nhưng thường mồi thuốc cho ba sau mỗi lần ba lặn xuống sông gỡ lưới. Đến giờ nó vẫn còn nhớ mùi thơm của thuốc rê khi nó quấn điếu thuốc bằng tờ giấy lịch cũ và liếm góc giấy lịch cho ướt để dán vào nhau.

Những năm học cấp 3, nó vẫn còn lang thang trên sông với ba những dịp hè.

Rồi nó vào đại học, đi học xa. Ba nó cũng không đủ sức khỏe để một mình trên sông nước. Ba bỏ ghe và chạy xe ôm nuôi nó những năm đại học.

Nó ra trường, đi làm, Nó đi nhiều nơi, đi làm ở nước ngoài nhưng trong tâm trí nó lúc nào cũng có hình ảnh của dòng sông và chiếc ghe nhỏ.

Thú vui của nó suốt thời gian đó là câu cá.

Những lúc khó khăn, cay đắng trong cuộc sống nó thích tìm 1 nơi yên tĩnh, thả cần câu và ngồi nhớ về những ngày tháng tuổi thơ như một nguồn động lực. Nó dặn lòng, mình đã từng trải qua như thế thì khó khăn ngày nay có là gì.

Với nó, câu cá không chỉ đơn thuần là 1 thú vui mà còn là 1 nhịp cầu đưa nó về tuổi thơ và động lực để đi tiếp.

Gần 20 năm, tưởng đâu nó đã quên với việc chèo xuồng, chạy máy trên chiếc ghe nhỏ.

Dịch Covid làm thay đổi mọi thứ, công việc bị dừng lại. Nó có thời gian về quê dài ngày. Những kỷ niệm ngày xưa lại ùa về. Nó tìm mua chiếc ghe nhỏ như chiếc ghe ngày xưa của ba. Những ngày ở quê, nó lại lang thang các bến sông, câu cá, đánh lưới.

Đêm, đậu thuyền trên bến đuôi cồn ngày nào, giờ đây chỉ còn vài cây bần và bãi bồi ngày xưa đã bị hút hết cát nó lại nhớ về những ngày tháng xưa.

Hóa ra, bôn ba mãi cũng chỉ để quay về.

Đêm nay, nước lặng, trăng sáng, gió nhẹ thổi trên đuôi cồn. Nó gác cần câu trên ghe, nằm nhìn đám bần năm xưa còn sót lại loang loáng ánh trăng. Một vài con đom đóm vẫn đều đều chớp sáng.

Lòng nhẹ tênh như một khúc tự tình.

Hơn nửa đời bôn ba, phải chăng chính nơi đây là nơi nó tìm lại được chính mình.

Đêm nay, mình nó nằm đây, với trăng, với sao, với mây nước, với vài bông hoa lục bình cuối mùa còn sót lại.

Đêm nay, bên ly trà trên ghe, nó lắng nghe lòng mình.

Và nó lăng nghe lời tự tình của dòng sông.

Add new comment

Plain text

  • No HTML tags allowed.
  • Lines and paragraphs break automatically.
  • Web page addresses and email addresses turn into links automatically.
CAPTCHA
This question is for testing whether or not you are a human visitor and to prevent automated spam submissions.