[CK10] CHIẾC LÁ TRẦU VÀNG
Chủ đề: Lặng yên lắng nghe
Thể loại: Tản văn
Bài thi: CHIẾC LÁ TRẦU VÀNG
Tác giả: Yên Dạ Lữ
Sơ lược:
Ngồi đây hiên nhạt nắng, rụng rơi lá trầu vàng
Mẹ tôi không còn nữa, bên hè xưa hè xưa
Cau tươi với trầu vàng, môi ăn viền cắn chỉ
Nhớ rau bầu rau bí, nồi cơm gạo mới thơm
Ôi! bánh bèo bánh đúc, đượm hương mùi lửa rơm
Thương hoài hoa trái thị, nơi cột nhà tỏa hương
Đỏ, xanh, vàng, tím, trắng; xoay tròn từng viên bi
Kẹo ú đùm thơm ngát, trong lá chuối xanh rì
Nếp hương cốm để dành, bạn bè ăn khen ngọt
Trưa hè canh bồ ngót, chiên mắm cá rô đồng
Giọt mồ hôi mặn chát , mẹ giã gạo đêm trăng
Mẹ về Trời thanh thản, con ở lại trần gian
Lá trầu vàng rơi xuống, con nghe buồn mênh mang
Mẹ ơi! Giờ đâu thấy, lòng con nhớ vô vàn
Đâu bàn tay hiền dịu, mẹ đã vuốt tóc con....
Ngồi đây bên vạt nắng, bóng Người khuất non ngàn
Mẹ tôi không còn nữa! Rụng rơi lá trầu vàng!...”
Tác phẩm:
Cứ mỗi chiều thu đến, khi hoàng hôn dần buông xuống, tôi thường ngồi ở đây. Từ chiếc ghế tựa nơi mái hiên nhà nhạt nắng, nhìn sang bên kia đường, một giàn trầu nhà hàng xóm lá mướt xanh, chợt rụng rơi chiếc lá trầu vàng khiến lòng mình nhớ sao là nhớ người mẹ hiền của một thời thơ ấu!….
Trong chiến biến năm 1974 tại Thường Đức, mẹ tôi đưa các em tôi tản cư lên vùng núi Lộc Ninh ( Đại Sơn) , sau đó một thời gian ngắn, ngược xuôi trên dòng Vu Gia, Người đã mất đi để lại một bà cô nội già và bốn đứa em thơ dại.

Mẹ tôi chết - Tôi không tin - nhưng sự thật vẫn mãi là sự thật. Trong một đêm nơi biền đất đầy lau sậy, trong mái chòi dựng tạm lạnh lẽo với ánh đèn dầu leo lét, mẹ tôi nhìn bà cô già nằm co ro, bốn đưa con dại( đứa gái lớn nhất 8 tuổi, đứa bé trai 2 tuổi) mà lòng đau như cắt! Gia đình ly tán “ một cảnh bốn quê “. Chồng được gọi tập trung học tập tận miền núi cao Tịnh Sơn giáp Lào; con trai đầu ( tôi) và con gái thứ tư đang học ở Hội An không biết có đủ tiền để học tiếp hay không; đứa con gái thứ hai đang học trường Lê Độ; thêm vào đó, những lời nói cay độc của người dân bám trụ miền Đá Trắng cùng bao nhiêu “tiếng bấc tiếng chì” của bà ngoại, dì Bốn, mợ Năm đã làm tổn thương mẹ tôi. Mẹ “ dứt áo ra đi “ xuôi thuyền bỏ vùng có người thân ruột thịt để về xứ đất Đồng Chàm tự lực mưu sinh. Trong hoàn cảnh thương tâm đó, cho dù có nghị lực cách mấy đi chăng nữa thì con người làm sao không nghĩ quẩn!
Mẹ tôi đi ra dòng sông Vu Gia đầu nguồn và mất tích từ đó….
… Em gái kế của tôi nhận tin, tức tốc băng rừng về tìm mẹ và bảo bọc các em.
Ngay sáng hôm sau, bà con gần xa, hàng xóm láng giềng cùng đàn chó săn đã quyết tâm tìm kiếm mẹ tôi. Những con đường mòn, những bờ lau sậy, nà bắp, rẫy sắn, nương khoai không bỏ sót chỗ nào nhưng hình dáng mẹ tôi vẫn “ bặt chim tăm cá”. Tối hôm đó trong đêm tăm tối và cái lạnh của vùng núi Đồng Chàm, em gái tôi thắp đuốc đi tìm một mình. Tiếng kêu khóc khản giọng“ Mẹ ơi!…Mẹ ở nơi mô??? làm cho nỗi đau thương xé lòng càng rơi vào khoảng không vô cùng vô tận…
… Hai hôm sau nữa, trên đường về quê gặt lúa, em nghe bộ đội nói rằng có một xác người phụ nữ nổi lên ở “Cấn Khe Hoa”! Linh tính như mách bảo, em tôi chạy ngay đến nhận rồi nhờ bộ đội đưa mẹ vào bờ. Chiếc poncho mang theo trải ra đạp lúa được em lót cho mẹ nằm rồi nhờ các anh bộ đội khiêng dùm vào trong bờ để khỏi bị mưa giông nước dềnh lên làm trôi mẹ! Em không còn tiếng để khóc thành giọng nữa! Nhìn mẹ, nước mắt tuôn trào, em thì thầm: “Mẹ ơi! Mẹ về với chúng con rồi đấy”! Em chạy ngược về lại Đồng Chàm nhờ bà con xuống chôn cất mẹ yên nằm trên vùng đất Bãi Quả.

Mẹ tôi mất đi là như thế đó! Tôi biết! Tôi hiểu đến tận cùng nỗi đau của chàng trai mồ côi mẹ! Tôi không oán trách bà ngoại, dì Bốn, mợ Năm và những người ở miền Đá Trắng(*)
Tôi chỉ lên án chiến tranh- chiến tranh thật tàn ác đã gây nên hàng triệu triệu niềm đau thương “ kêu trời không thấu….
Hình như có sự phù hộ của mẹ hiền nên cô em gái kế tôi mới mười bảy tuổi đầu kịp trở về chôn cất mẹ và sau đó là em trai út cũng theo mẹ ra đi.
Rồi từ đó , em như cánh cò đơn độc tão tần thay mẹ nuôi 3 đứa em còn sống sót. Khi viết cho em gái, những dòng thơ hiện về nghẹn ngào trong từng câu chữ:
[….Vốn thông minh em đã học nhiều nghề
May vá, đan thêu, trồng rau , cuốc đất...
Và nơi em một tâm hồn chân thật
“Bộ đội về làng” sửa áo, may “tăng(**) ”
Đổi rau tươi, củ quả … rất nhiều hàng
Thành sửa bột, thành đường…nên gạo trắng
Còn 3 em lớn lên trong tình yêu sâu lắng.
“ Chị Ba ơi! Chiều xế nắng chị về chưa????!!!!”
“Gùi” trên lưng - đôi thúng nhỏ đu đưa
Theo nhịp bước chao nghiêng trời Hội Khách
Em dặn lòng: vượt qua bao thử thách
Để trở về ôm chặt các em thơ
Truông tâm lan- con thác nhỏ mong chờ
Dấu niềm đau trên vai nghìn vất vả
Bàn chân quen chai sần bên sỏi đá
Vẫn yêu đời vui miệng mấy câu ca…
Bước liêu xiêu trong ánh nắng chiều tà
Ngày sắp tắt hoàng hôn vừa buông xuống
Em trở về, gùi trên vai, quần còn xắn cuộn
Mệt nhọc tiêu tan ôm chặt các em khờ….
“ Em để phần cơm trắng với cá kho...
để chị ăn no, vá may, về làng gặt lúa”
Tình yêu thương ngất trời sao thể nói
Mắt lệ nhoà bốn đứa trẻ ôm nhau!”]
Lúc bấy giờ tôi đang học lớp mười hai ban toán tại trường Trần Quý Cáp Hội An còn đứa em gái học lớp sáu trường Nữ Trung học! Hai anh em tôi chính thức mồ côi mẹ nhưng đã đùm bọc nhau tiếp tục học hành . Tôi đi dạy kèm còn em tôi vừa đi học vừa lo việc bếp núc….
Năm 1975 gia đình tôi đoàn tụ. Tôi trở lại quê hương gặp lại bốn đứa em ( em trai út đã mất vì thiếu mẹ) và bắt đầu thay cha mẹ cùng em gái nuôi các em thơ.
“ Ngày nào đó cuộc tương tàn chấm dứt
Làng hoang vu người trở lại dựng nhà
Tôi mặc áo nâu trở về làm ruộng
Tôi trở về làm lại kiếp người ta”!…(***)
Trên nền đống đổ nát, tôi đã dọn dẹp suốt một mùa trăng để lấy lại cái nền gạch cũ. Tôi và em gái kế theo chú Ba Tịnh vào rừng chặt cây về làm thành một “ túp lều tránh nắng trú mưa”. Cuộc sống cứ dần trôi vì tôi đã học được ở trường những điều hay như trong bài giảng văn “ Cụ Tú từ Trần” trích trong tác phẩm “ Nửa chừng xuân “ của nhà văn Khái Hưng ( 1 ) đó là : “ GIỮ LÒNG VUI, GIỮ LINH HỒN TRONG SẠCH VÀ ĐEM HẾT NGHỊ LỰC RA LÀM VIỆC”!
Có những buổi trưa, sau giờ lao động quanh vườn, tôi mắc võng bên hè nghỉ ngơi mà chạnh lòng nhớ thương người mẹ hiền yêu dấu!

Mẹ tôi không còn nữa, bên chiếc võng đay từ mái hè xưa, tôi hình dung như hình bóng mẹ vẫn còn đâu đó quanh đây. Mẹ cũng như những phụ nữ thập niên 70 thường ăn trầu. Cau tươi bổ làm sáu miếng, kẹp một miếng cau với trầu têm cánh phượng, khi ăn, môi mẹ đỏ thắm như đánh son, đặc biệt vệt đỏ đậm như nếp viền cắn chỉ hồng làm tôi thấy mẹ đã đẹp lại càng đẹp thêm nhiều hơn nữa! Là hoa khôi của làng Đông Phước, mẹ lại mang đầy đủ “ TỨ ĐỨC- TAM TÒNG” (2) nên mẹ là người đầu bếp tuyệt vời của anh em chúng tôi! Bên bếp lửa hồng, mẹ mới đẹp làm sao! Nồi cơm gạo mới thơm khi vần tro than tỏa mùi hương đồng nội đến ngất ngây. Hình ảnh mẹ ngồi thong thả trên chiếc ghế đòn cha đóng để lặt rau vẫn còn đọng mãi trong tâm hồn tôi.
Những đĩa rau bầu, rau bí, chấm mắm cái thơm lừng “ ăn hoài mệt nghỉ”. Tôi lại nhớ đến lúc vào nửa chiều mẹ lại khuấy nồi bánh đúc chấy dầu phụng béo ngậy, vàng ươm rồi rắc lên trên bao nhiêu là lá hẹ xanh thái nhỏ, mới nhìn thôi thì đã thèm nhỏ dãi rồi! Những chiều mưa giông, sau cơn mưa, trời sẫm tối, mẹ xay bột gạo rồi đổ bánh bèo! Những chén bánh bèo xoáy tròn lõm xuống “đều giăng như một“. Mẹ chấy dầu, rắc đậu phụng rang cùng tôm khô giã nhỏ sao trông thật là ngon!

Ôi! Tôi nghe như trong những giọt nước tranh còn sót lại đượm hương mùi lửa rơm và một “mùi rất quen thuộc”. Có một nhạc sỹ đã viết :” vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng” bằng một giai điệu thiết tha khi đợi mẹ tan chợ về, còn tôi cứ: “Thương hoài hoa trái thị, nơi cột nhà tỏa hương” vì khi chợ về, mẹ thường mua những quả thị vàng ươm , thơm tận cùng hốc mũi! Mẹ khéo léo cắt ra đưa cùi và hạt cho chúng tôi ăn, gặm rồi bảo tôi dán vỏ 6 cánh mà nhuỵ là cuống quả xinh xinh vào từng cây cột trong gian nhà đầy ắp tiếng cười! Không những có thị thơm như truyện cô tích mẹ kể hằng đêm khi ru giấc chúng tôi mà mẹ còn dành tiền mua những hòn” bi chai “ đủ màu đỏ, xanh, vàng, tím, trắng; tôi và em trai xoay tròn từng viên bi nhìn mẹ biết ơn vì mẹ hiểu được trò chơi vô cùng hứng thú của con mình. Có những buổi đi chợ về mẹ đưa từ chiếc rổ bên trong túm lá chuối xanh rì là những viên kẹo ú đùm thơm ngát mùi đường non!
Nhớ sao là nhớ những mùa nghỉ hè ở Hội An về quê, mẹ đón các bạn học cùng lớp với tôi đến nhà đãi cho ăn những bữa cơm dân dã tự tay mẹ nấu. Vẫn cơm gạo lúa mới nấu trong nồi đồng, vẫn rau bầu, rau bí chấm mắm cái Hội An, vẫn canh bồ ngót nấu cá lấu cha tôi bủa câu cùng cá rô đồng chiên giòn tan chấm nước mắm gừng nồng cay xông lên tận mũi! Thương con trai là mẹ quý bạn bè của con nên có những đêm trăng mẹ rang, giã gạo lúa nếp rặt còn tươi mẫy thành cốm gói trong lá sen xanh thơm hương quê kiểng để dành cho đám bạn bè ăn mà tấm tắc khen ngon. Trong những đêm trăng đó chúng tôi đàn, hát nhạc Trịnh Công Sơn và nói chuyện với nhau về hoài bão sau này. Mẹ ngồi vui hóng chuyện mà trong mắt mẹ ánh lên niềm mãn nguyện. Tôi lại nghe thoang thoảng một “mùi hương quen thuộc”!

Có những trưa hè đi làm đồng về, tôi lau từng giọt mồ hôi mặn chát đọng lại trên trán mẹ mà lòng thương mến vô bờ.
Cái” mùi hương quen thuộc” ấy lại đọng vào ký ức của tôi thành nỗi nhớ không thể nào quên!
Tất cả những mùi thơm ấy nâng giấc cuộc đời tôi để cho tôi từng bước trưởng thành! Đó chính là
MÙI CỦA MẸ!…..
Bây giờ, tôi vẫn ngồi đây bên vạt nắng chiều, dáng hình Người Mẹ Hiền yêu quý đã khuất bóng tự non ngàn theo mây trắng hiện về nơi chân trời xa tít! Mẹ thật sự đã bay về Trời bình yên, thanh thản, chỉ còn lại đứa con trai đầu cùng vợ con cháu chắt của mẹ ở lại trần gian…
….Một cơn gió nhẹ thoáng qua, thêm vài chiếc lá trầu vàng rơi xuống, lại nhớ mẹ quắt quay ! Bây giờ đây, trong lòng tôi bỗng dâng lên nỗi buồn mênh mang vì thương mẹ!
Tôi khẽ hát mấy câu cuối của bài thơ được bạn LÊ NHÌ phổ nhạc:
“Mẹ ơi! Giờ đâu thấy, lòng con nhớ vô vàn
Đâu bàn tay hiền dịu, mẹ đã vuốt tóc con...
Mẹ tôi không còn nữa! Rụng rơi lá trầu vàng!...”
Chú thích:
(1) Khái Hưng: một nhà văn trong TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
(2) TỨ ĐỨC: CÔNG - DUNG- NGÔN -HẠNH
TAM TÒNG: TẠI GIA TÒNG PHỤ - XUẤT GIÁ TÒNG PHU - PHU TỬ TÒNG TỬ
(*) Tên một địa phương thuộc huyện Nam Giang
(**) Tên một chiếc bọc võng may bằng vải dù của pháo sáng
(***) Thơ Nguyễn Đông Nhật
PHẠM ĐÌNH YÊN - YÊN DẠ LỮ
Add new comment